CHUÔNG CHÙA TIÊN PHƯỚC (LÀNG TIÊN NỘN) VÀ DẤU ẤN CỦA THƯỢNG THƯ LÊ QUANG ĐỊNH VỚI PHẬT GIÁO HUẾ

(Bài đã đăng ở TS. Liễu Quán, số 18, tháng 7/2019. Bài viết được hoàn thành nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt thành của quý Mệ ở Nhúm Lửa Nhỏ, cùng anh em bằng hữu thân tình, yêu quý văn hóa lịch sử, đã cùng phối hợp tìm hiểu trong vòng hơn 1 năm ròng. Xin chân thành kính tri ân!)

  1. Mở đầu

Đất Thần kinh là nơi sản sinh và hun đúc nhiều nhân tài kiệt xuất cho quê hương đất nước. Một trong những vị tuấn kiệt ấy là Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định (1759-1813). Ông là người quê gốc ở làng Tiên Nộn, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay. Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 11: tiểu truyện Lê Quang Định cho biết: Lê Quang Định 黎光定 tên tự  Tri Chỉ 知止[1], hiệu Tấn Trai 晉齋. Cha ông tên Sách 策, làm chức Thủ ngự nguồn Đà Bồng (沱蓬源 Đà Bồng nguyên, tức sau đổi thành Trà Bồng, Quảng Ngãi), mất khi đương chức.

LQD1- Cong chua Tien Phuoc

Ảnh 1: Cổng chùa Tiên Phước- làng Tiên Nộn (quê hương Thượng thư Lê Quang Định)

Tiếp tục đọc “CHUÔNG CHÙA TIÊN PHƯỚC (LÀNG TIÊN NỘN) VÀ DẤU ẤN CỦA THƯỢNG THƯ LÊ QUANG ĐỊNH VỚI PHẬT GIÁO HUẾ”

VỀ CÁCH HIỂU BÀI THƠ “ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU TÁC” CỦA CHÁNH SỨ LÊ QUANG ĐỊNH VÀ LỜI BÌNH CỦA THI HÀO NGUYỄN DU (Trao đổi cùng TS. Nguyễn Đình Phức)

黃鶴樓.jpg

Ảnh Hoàng Hạc lâu (Internet)

Bài viết được đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 380 (10-01-2019), trang 32-37)

Thượng thư Lê Quang Định (1759-1813) quê làng Tiên Nộn, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một trong những danh thần xuất chúng triều vua Gia Long. Ông đã đóng góp nhiều công lao to lớn cho công cuộc khôi phục trung hưng triều Nguyễn, làm quan trải nhiều chức vụ trọng yếu (như Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Hộ kiêm coi Khâm Thiên giám…), góp công ở nhiều lĩnh vực, trong đó có việc biên soạn bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí – bộ địa chí đầu tiên đồ sộ của nhà Nguyễn sơ… thế nhưng cho đến nay, việc tìm hiểu và nghiên cứu về ông vẫn còn nhiều điểm còn bỏ ngỏ.

Chúng tôi quan tâm đến danh nhân Lê Quang Định lâu nay, và vừa rồi may mắn tìm ra ngôi mộ của hai vợ chồng ông ở thôn Tứ Tây, phường An Tây, Thành phố Huế. Từ đó, chúng tôi càng mong muốn tìm hiểu, nối kết với dòng tộc Lê Quang ở làng Tiên Nộn, đồng thời có thêm nhiều bài nghiên cứu về công trạng, thành tựu của ông.

Qua tìm hiểu, tình cờ đọc được bài viết của TS. Nguyễn Đình Phức với nhan đề: “V bài viết ‘Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo’ của PGS TS Nguyễn Đăng Na”  đăng tải ở Tạp chí Hán Nôm, số 1 (86) 2008, tr.63-76[1]. Bài phản biện này rất thú vị, khảo cứu khá kỹ càng và đưa lại nhiều cách hiểu phù hợp cho độc giả đối với tập thơ Hoa nguyên thi thảo của Lê Quang Định, cũng như các lời bình của thi hào Nguyễn Du ở một số bài thơ thuộc tập Hoa nguyên thi thảo này.

Dẫu vậy, khi đọc đến phần luận giải của TS. Nguyễn Đình Phức về cách hiểu bài thơ Đăng Hoàng Hạc lâu tác cùng lời bình của Nguyễn Du, chúng tôi có một số điểm chưa đồng tình với tác giả, qua đây xin được trao đổi cùng tác giả về nội hàm bài Đăng Hoàng Hạc lâu tác. Tiếp tục đọc “VỀ CÁCH HIỂU BÀI THƠ “ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU TÁC” CỦA CHÁNH SỨ LÊ QUANG ĐỊNH VÀ LỜI BÌNH CỦA THI HÀO NGUYỄN DU (Trao đổi cùng TS. Nguyễn Đình Phức)”

VỀ VĂN BIA THÁP TỔ KHẮC HUYỀN CHÙA THIỀN LÂM (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)

*Bài viết của chúng tôi dưới đây đã được https://khoahocnet.com cho đăng tải vào ngày 07/02/2018 ở link: https://khoahocnet.com/2018/02/07/vo-vinh-quang-ve-van-bia-thap-to-khac-huyen-chua-thien-lam-trao-doi-cung-bac-si-nguyen-anh-huy/

Tuy nhiên, bài được upload trên trang khoahocnet.com có 1 số ảnh bị thiếu và có phần nhảy chữ so với bản doc chúng tôi gửi cho BBT. Vì thế, chúng tôi xin cung cấp toàn văn và đầy đủ ảnh tư liệu nguyên vẹn lên trang blog này. Xin cám ơn!

Sau khi chúng tôi công bố bài phản luận Thin Lâm – ngôi chùa lịch sử, Thin viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch v chùa Thin Lâm[1], độc giả đã có một số phản hồi nhất định. Đối với chúng tôi, việc phản biện khoa học là điều rất cần thiết để các vấn đề khoa học, lịch sử văn hóa được ngày càng sáng tỏ, chuẩn xác. Bởi thế, chúng tôi rất hoan nghênh và đón nhận tất cả các phản luận khoa học liên quan.

Mới đây, vào ngày 14 tháng 01 năm 2018, trên trang https://khoahocnet.com,  Bác sĩ Nguyễn Anh Huy (BS. NAH) cho đăng bài Trao đổi với tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang v những phản biện quyển sách Chùa Thin Lâm[2] nhằm phản biện một số phần trong bài viết này của chúng tôi.

Trước tiên, chúng tôi xin cám ơn BS. NAH đã phản hồi, giúp người viết có thêm điều kiện để nhìn nhận lại cụ thể hơn vấn đề cần trao đổi. Trên tinh thần khách quan khoa học, ở bài viết này, chúng tôi xin hồi đáp cụ thể như sau. Tiếp tục đọc “VỀ VĂN BIA THÁP TỔ KHẮC HUYỀN CHÙA THIỀN LÂM (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)”

TƯ TƯỞNG “BẤT VONG BẢN” THỂ HIỆN CỘI NGUỒN ĐẠO LÝ Á ĐÔNG ĐẶC TRƯNG CỦA CÔNG TỬ HƯỜNG THIẾT (khảo sát qua văn bia mộ Lục Khanh Hường thiết)

  1. Dẫn đề:

Lục Khanh Hường [Hồng] Thiết là một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu của vùng đất Đế đô cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Nguyễn Phúc Hường Thiết (1850-1937) _ con trai thứ 18 của Đức Ông Tuy Lý Vương Miên Trinh và bà Nguyên cơ Phạm Thị Thìn_ sinh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Dậu, niêu hiệu Tự Đức thứ 2 (tức ngày 07/01/1850) tại Huế, tự Lục Khanh 陸卿, hiệu Tiểu Thảo 小草, Liên Nghiệp Hiên 連業軒, pháp danh Thanh Thiện 倩善(1). Được sinh ra trong một gia đình Hoàng thân tiêu biểu với truyền thống thi thư lễ nhạc vẹn toàn, Hường Thiết đã kế thừa và phát triển tinh hoa giáo dục từ “nếp nhà” một cách cao đẹp nhất. Tiếp tục đọc “TƯ TƯỞNG “BẤT VONG BẢN” THỂ HIỆN CỘI NGUỒN ĐẠO LÝ Á ĐÔNG ĐẶC TRƯNG CỦA CÔNG TỬ HƯỜNG THIẾT (khảo sát qua văn bia mộ Lục Khanh Hường thiết)”

CÔNG NỮ NGỌC TUYÊN VÀ DÒNG TỘC NGUYỄN CỬU LÀNG VÂN DƯƠNG: NHÌN TỪ VAI TRÒ VÀ CÔNG LAO TO LỚN ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP TRUNG HƯNG CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN

Võ Vinh Quang

(Bài đã đăng ở Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển, Số 2 (136), 2017, tr.121-130)

Tóm tắt:

Bài viết lược khảo về vai trò, vị thế của dòng tộc Nguyễn Cửu đối với quê hương đất nước và điểm vài nét quan trọng về dấu ấn của công nữ Ngọc Tuyên (con gái trưởng của Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, và là vợ của Kế quận công Nguyễn Cửu Thống) đối với công cuộc trung hưng, thống nhất sơn hà của Nguyễn vương Phúc Ánh, từ đó dựng lập nên vương triều Nguyễn (1802-1945). Với các cứ liệu cụ thể, người viết mong rằng công lao của bà Ngọc Tuyên (cũng như dòng tộc Nguyễn Cửu) cần được nhìn nhận rõ ràng, chân thực và cụ thể, xứng tầm hơn. Từ đó, chúng tôi mong các cơ quan hữu trách có sự quan tâm xứng đáng và cần thiết vinh danh bà bằng các chính sách phù hợp, thiết thực, nhằm giúp tránh được tình trạng xâm hại đất đai, nhà thờ và di tích lăng mộ vợ chồng bà và của các danh nhân tộc Nguyễn Cửu như hiện nay.

Tiếp tục đọc “CÔNG NỮ NGỌC TUYÊN VÀ DÒNG TỘC NGUYỄN CỬU LÀNG VÂN DƯƠNG: NHÌN TỪ VAI TRÒ VÀ CÔNG LAO TO LỚN ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP TRUNG HƯNG CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN”

ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC “SẮC TỨ” (trao đổi cùng ông Nguyễn Anh Huy)

(Bài viết dang word, dưới đây là bản thảo gửi tạp chí PT KTXH Đà Nẵng, chưa được BBT tạp chí điểu chỉnh. Bài chính thức [có điều chỉnh] đã đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, số 86/ 2017, trang 60-68 –  tôi có đính kèm ở phần phụ lục).

Cùng 1 seri các bài tranh luận liên quan đến “Sắc tứ”, tôi tiếp tục post lên bài bàn luận về sắc tứ tiếp theo, để hồi đáp bài viết của ông Nguyễn Anh Huy ở tạp chí Huế Xưa&Nay số 138.  Mặc dù tôi định không tiếp tục đề cập đến vấn đề này, nhưng vừa rồi, hôm mồng 07 tháng 04 năm 2017, ông NAH lại tiếp tục viết bài gửi đăng ở Khoahoc.net (https://khoahocnet.com/2017/04/07/bac-si-nguyen-anh-huy-thay-gi-qua-viec-phan-tich-ngu-phap-cau-dai-viet-quoc-vuong-sac-tu-ha-trung-tu-hoan-bich-thien-su-thap-ky-minh/#comment-11885), trong đó ông lại tiếp tục xảo biện và có những lời lẽ mang ý khích bác, xuyên tạc. Bởi thế, tôi thiết nghĩ không thể không đưa toàn bộ bài viết này lên (cùng với ảnh bản tư liệu) để rộng đường dư luận.

Dưới đây là bản thảo bài viết tôi gửi đến tạp chí Phát triển Kinh tế xã hội Đà Nẵng. XIn trân trọng giới thiệu với mọi người (phần Phụ lục, chúng tôi sẽ post ảnh bản  bài viết của Nguyễn Anh Huy, số 138 ở Tạp chí Huế Xưa&Nay). PS: qua các bài viết của ông NAH, dễ dàng nhận thấy ông Huy không xác định được “đối tượng” là gì, “sắc tứ” là gì và “đối tượng được sắc tứ” là gì! Từ đó, ông không hề xác định được từ vựng và cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt. Nói một cách rất tếu là: từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt ông còn không biết, lấy gì ông đòi bàn về ngữ pháp tiếng Hán???

Tiếp tục đọc “ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC “SẮC TỨ” (trao đổi cùng ông Nguyễn Anh Huy)”

BÀN VỀ HAI CHỮ “SẮC TỨ” 敕賜 TRONG VĂN BIA SẮC TỨ HÀ TRUNG TỰ HOÁN BÍCH THIỀN SƯ THÁP KÝ MINH

Dẫn:

“Sắc tứ” và văn bản có sự hiện diện của “Sắc tứ” hiện nay tồn tại khá nhiều, khá phổ biến trong các gia tộc, làng xã trên toàn lãnh thổ Việt Nam (hơn thế nữa, những tư liệu “sắc tứ” có mặt ở cả các loại hình đồng tiền, biển gỗ, kim bài, kim khánh… và nhiều tư liệu đang thuộc về sở hữu của các nhà sưu tập cổ vật ở trong và ngoài nước).

Nói như thế để thấy rằng, giải thích cụ thể về “sắc tứ”, nội hàm của “sắc tứ” và các loại hình văn bản hiện diện “Sắc tứ” không hề là chuyện phiếm qua đường, mà sẽ tác động rất lớn đối với nhận thức của xã hội.

Vừa qua, ông Nguyễn Anh Huy (NAH), một bác sĩ ở Bệnh viên Đa khoa tỉnh Thừa Thiên Huế, đã liên tục đăng tải bài viết phê phán tôi (Võ Vinh Quang) rằng tôi “SAI VỀ NGỮ PHÁP HÁN VĂN”, rằng tôi “NHẦM LẪN VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC SẮC TỨ”… Vả chăng, càng viết ông NAH càng tỏ rõ sự hằn học, cay cú, bực tức và dùng rất nhiều ngôn từ mỉa mai, châm chích, xỏ xiên, mang hàm ý xúc phạm. Ông đăng tải bài viết đầu tiên về câu chuyện “sắc tứ” ở Tạp chí Huế Xưa & Nay số 136 (2016), tại đây ông bảo tôi “hiểu sai ngữ pháp Hán văn“, “đối tượng được sắc tứ” phải là “KÝ MINH” (trong: [Đại Việt quốc vương] Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh) . Để phản biện nhận định này, tôi đã viết bài hồi đáp, đăng tại tạp chí  Huế Xưa&Nay số 137, trong đó bằng đầy đủ các chứng cớ từ văn tự, tên gọi, nội hàm thuật ngữ và thực tế tồn tại của loại hình “Sắc tứ”, tôi khẳng định rằng “sắc tứ” không hề có loại đối tượng được ban “sắc tứ” nào gọi là “KÝ MINH” (hay BI KÝ MINH) cả. Cũng ở bài viết số 136 đó, NAH đã sử dụng (dạng copy) nguyên xi tư liệu “Hà Trung yên vũ  河中烟雨” của TS. Trần Đức Anh Sơn (đăng trên blog và facebook của cá nhân ông A. Sơn), nhưng lại chú dẫn là dùng bài của NNC Trần Đình Sơn (TC Văn hóa Phật giáo số 52, ngày 1.3.2008) . Tiếp tục đọc “BÀN VỀ HAI CHỮ “SẮC TỨ” 敕賜 TRONG VĂN BIA SẮC TỨ HÀ TRUNG TỰ HOÁN BÍCH THIỀN SƯ THÁP KÝ MINH”